Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014

Quỹ đầu tư Singapore dồn dập đổ vốn vào Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam liên tiếp đón nhận thông tin tích cực từ các nhà đầu tư Singapore trong những tháng đầu năm.
Năm 2013, thị trường chứng khoán Việt Nam chứng kiến sự đổ bộ của các doanh nghiệp Nhật Bản, Thái Lan và Mỹ như trường hợp Mitsui mua cổ phần công ty con Minh Phú, Siam Cement Group (SCG) và các công ty con mua cổ phần Prime Group, Nhựa Bình Minh, Nhựa Thiếu Niên Tiền Phong hay quỹ Warburg Pincus rót 200 triệu USD vào Vingroup....
Sang đầu năm nay, sàn chứng khoán tiếp tục nóng lên với những thông tin về nhà đầu tư nước ngoài, khi môi trường vĩ mô ổn định và Chính phủ sắp cho phép nới tỷ lệ sở hữu của khối ngoại tại các doanh nghiệp niêm yết. Trong đó, luồng vốn từ nhà đầu tư Singapore trở thành điểm sáng.
GIC.jpg
GIC - quỹ đầu tư của Chính phủ Singapore có danh mục hơn 100 tỷ USD vừa rót vốn vào FPT và PAN.
Công ty cổ phần FPT (Mã CK: FPT) vừa đón nhận hai cổ đông tổ chức từ Singapore là quỹ đầu tư GIC nắm 3% vốn điều lệ và Cashew Invesments sở hữu khoảng 3,6%. Trong giới đầu tư, GIC được biết đến là tổ chức thuộc sở hữu của Chính phủ Singapore và đang quản lý danh mục đầu tư hơn 100 tỷ USD, còn Cashew Invesment là một nhánh của Temasek Holdings, một cơ quan thuộc bộ phận đầu tư của chính phủ Singapore.
Thương vụ mua bán trị giá hàng chục triệu đôla, song lại diễn ra khá bí mật trên thị trường chứng khoán do mỗi nhà đầu tư mua chưa đến 5% lượng cổ phần đang lưu hành, do vậy không phải công bố công khai. Sự việc chỉ được sáng tỏ khi FPT công bố báo cáo thường niên bao gồm danh sách 10 nhà đầu tư lớn nhất. Trao đổi với VnExpress.net, ông Nguyễn Thế Phương - Phó Tổng giám đốc FPT đánh giá đây đều là những nhà đầu tư lớn, dài hạn trên thị trường chứng khoán.
"Những nhà đầu tư uy tín trên thế giới thường chọn những doanh nghiệp có kết quả kinh doanh và triển vọng tốt, có hệ thống quản trị minh bạch. Đây có lẽ là những nguyên nhân khiến phía Singapore quan tâm đến FPT", ông Phương nhận xét.
"Việt Nam hiện nay có một vị thế rất tốt để thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài. Tỷ lệ lạm phát được kiểm soát tốt, đồng tiền Việt Nam ổn định, thặng dư thương mại, trong khi sức tiêu thụ ngày càng tăng mạnh. Việt Nam có một câu chuyện hay và đáng tự hào để kể cho thế giới."
Ông Michael Rosen
Động thái này cũng diễn ra trong bối cảnh FPT đặt mục tiêu doanh thu 100 triệu USD tại thị trường Singapore. Đại diện FPT cho hay công ty đang chủ động nhờ sự giúp đỡ của các cổ đông khi thâm nhập quốc gia này, song mức độ như nào phải tùy từng trường hợp cụ thể.
Trong tháng 3/2014, GIC cùng The Asian Entrepreneur Legacy (TAEL) Partners cũng chi khoảng 300 tỷ đồng mua gần 10 triệu cổ phiếu Công ty cổ phần Xuyên Thái Bình (Mã CK: PAN). Chia sẻ về mối nhân duyên với cổ đông Singapore, ông Michael Louis Rosen - Tổng giám đốc PAN cho biết thương vụ này "không phải ngẫu nhiên" mà xuất phát từ việc công ty đã chủ động liên hệ với GIC sau khi có kế hoạch huy động 650 tỷ đồng dưới hình thức chào bán riêng lẻ.
Vị này bày tỏ Chính phủ Singapore đang rất quan tâm tới lĩnh vực thực phẩm và nông nghiệp, và một năm trước, PAN cũng bắt đầu theo đuổi chiến lược mua bán - sáp nhập (M&A) các công ty trong nước trong lĩnh vực này. "Qua đợt huy động vốn lần này, chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện chiến lược M&A các công ty trong ngành nông nghiệp và chế biến thực phẩm tiêu dùng", ông cho hay.
Về phía TAEL, đây là công ty đặt trụ sở tại Singapore và có mối quan hệ với Temasek (được tổ chức này rót vốn đầu tư). TAEL được sáng lập bởi ông Michael Sng, quản lý cao cấp của United Overseas Bank (UOB). Ngoài đầu tư vào PAN, trong năm 2013 TAEL còn trở thành cổ đông lớn của Công ty cổ phần Ánh Dương Việt Nam (Vinasun - Mã CK: VNS) và sắp tới sẽ tham gia mua cổ phần của Công ty cổ phần Hùng Vương (Mã CK: HVG), doanh nghiệp xuất khẩu cá tra lớn nhất Việt Nam.
Liên quan đến UOB, cuối năm 2013, ngân hàng này cũng được phép tiếp cận Ngân hàng Dầu Khí Toàn cầu (GPBank) để khảo sát, nhằm tiến tới mua lại gần như toàn bộ cổ phần ngân hàng này. Báo cáo trước Chính phủ cuối tháng 3/2014, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho hay GPBank sẽ hoàn tất sáp nhập trong năm nay và sẽ có ngân hàng nước ngoài mua lại 100% cổ phần của ngân hàng này.
Theo Nghị định về sở hữu của nhà tư vấn đầu tư nước ngoài tại tổ chức tín dụng được ban hành ngày 3/1/2014, cổ đông chiến lược nước ngoài có thể trên 20% vốn điều lệ một ngân hàng trong trường hợp đặc biệt để cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém, gặp khó khăn. Do vậy, GP Bank có thể bán toàn bộ vốn cho UOB hay một nhà đầu tư khác nếu được Thủ tướng, Ngân hàng Nhà nước cho phép. Hiện GP Bank có vốn điều lệ hơn 3.000 tỷ đồng.
Nhận định về luồng vốn đầu tư từ Singapore dồn dập đổ vào Việt Nam trong những tháng đầu năm, tiến sĩ Alan Phan lý giải "do dư tiền, các định chế tài chính Singapore phải đầu tư vào các quốc gia khác". Theo ông, Singapore đang được nhiều nhà đầu tư quốc tế, nhất là Trung Quốc đem tiền đến đầu tư vì tín nhiệm những kết quả Singapore tạo được trong điều hành kinh tế và thị trường tài chính hai thập kỷ vừa qua. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan và Myanmar đang được coi là đối tác chiến lược của Singapore.
Bên cạnh đó, tiến sĩ Alan Phan cho biết với dòng tiền chảy mạnh từ các nhà đầu tư Trung Quốc, Singapore đang chịu sức ép của bong bóng tài sản, nhất là lĩnh vực nhà đất, do đó các nhà đầu tư tại quốc đảo Sư tử cần tìm kênh đầu tư khác, trong đó có thị trường cổ phiếu. "Hiện tượng này sẽ tiếp tục trong ba năm tới", vị chuyên gia này cho biết.
Lãnh đạo một công ty chứng khoán phía Bắc cũng cho hay việc Việt Nam đang có động thái tích cực cho phép tư vấn đầu tư nước ngoài sở hữu nhiều hơn tại doanh nghiệp niêm yết, cùng với nhiều chính sách hỗ trợ phát triển sẽ là động lực để các quỹ nước ngoài nói chung và Singapore nói riêng đầu tư mạnh. Ngoài ra, thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá "rất hấp dẫn" trong khu vực châu Á khi trong 3 tháng đầu năm, VN-Index đã tăng gần 20%, HNX - Index cũng tăng 30%.
Tuy nhiên, Tổng giám đốc PAN cũng khuyến nghị các doanh nghiệp muốn "bắt tay" với nhà đầu tư Singapore cần tăng cường sự minh bạch và hiệu quả hoạt động. "Những yêu cầu, câu hỏi và băn khoăn của họ trong quá trình tìm hiểu công ty nên được tôn trọng và đáp ứng một cách rõ ràng, nhanh chóng và có trách nhiệm", ông Rosen nhấn mạnh.
Ngoài ra, thị trường cũng cần thêm các công cụ để thu hút các nhà đầu tư tổ chức. "Hiện nay, việc huy động vốn tại Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các nhà đầu tư nhỏ lẻ trong khi nguồn vốn từ các nhà đầu tư tổ chức khá hạn chế và chưa được đa dạng hóa, ví dụ như quỹ tương hỗ và quỹ đầu tư hưu trí không có nhiều", ông nói.
Chủ tịch Ủy ban chứng khoán Vũ Bằng bày tỏ năm 2014, kinh tế vĩ mô sẽ khởi sắc do những tín hiệu tích cực từ năm 2013, lạm phát được kiểm soát, lãi suất giảm, cán cân thương mại cải thiện, dự trữ ngoại tệ tăng và tỷ giá khá ổn định. "Việt Nam đã có dấu hiệu thoát đáy và đi lên, làn sóng đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, kể cả trực tiếp và gián tiếp đều có dấu hiệu tăng trưởng mạnh mở ra nhiều cơ hội cho thị trường phát triển", vị này nhận định.
Phương Lin
h

Vì sao doanh nghiệp ngại công bố phá sản?

Nhiều doanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản và giải thể nhưng rất khó làm thủ tục phá sản nhanh gọn và thuận lợi, dù Luật Phá sản đã được ban hành từ năm 1993. Điều này cũng đồng nghĩa chưa có giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất kinh doanh hoặc giải thoát.
Vướng từ Luật

Theo phản ánh của các doanh nghiệp (DN), muốn làm thủ tục phá sản không dễ, lý do cơ bản nhất là thủ tục quá rườm rà. Như ở khu công nghiệp Đồng Nai chỉ có 4 DN xin làm thủ tục phá sản nhưng có tới 3 hồ sơ tòa từ chối không thụ lý vì lý do báo cáo tài chính lập không đúng thời điểm.

Tương tự, một lý do khác khiến việc công bố phá sản của DN gặp khó khăn là các chủ nợ của DN (chủ yếu là ngân hàng thương mại) gây sức ép để không phải ra tòa. Lập luận của ngân hàng là các khoản vay nợ của DN đều có tài sản đảm bảo. Nếu phát mãi, họ sẽ thu hồi được gần hết món nợ.

Còn theo Luật Phá sản, tài sản sẽ được chia theo quy định, đến lượt chủ nợ có khi không còn bao nhiêu. Chưa hết, nếu DN nộp đơn phá sản, có nghĩa món vay phải đưa vào lập dự phòng, mà thời gian tòa tuyên phá sản khá dài thì khoản nợ ấy bị treo lâu, dễ bị liệt vào nợ xấu, ảnh hưởng đến lợi nhuận cả năm của ngân hàng.

Theo chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh, đây là thực tế chưa có hướng ra. “Không chỉ doanh nghiệp ngại phá sản mà chính các chủ nợ và đối tác của họ cũng ngại vì sẽ khó thu hồi được nợ, ảnh hưởng đến uy tín kinh doanh…” - ông Ánh nói.
Theo thống kê của TAND Tối cao, từ năm 2008 đến năm 2011, ngành tòa án đã nhận 636 đơn yêu cầu được phá sản. Trong đó trả lại đơn 13 vụ, ra quyết định mở thủ tục phá sản 518 vụ, ra quyết định không mở thủ tục phá sản 9 vụ, ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản 18 vụ.

Đặc biệt, tòa án chỉ ra được quyết định tuyên bố phá sản 45 vụ. Có tới 12 trong số 52 TAND cấp tỉnh từ năm 2004 đến nay không thụ lý bất cứ yêu cầu phá sản của DN nào.

Việc chậm trễ trong ra quyết định tuyên bố phá sản đang thể hiện những bất cập trong Luật Phá sản. Luật sư Nguyễn Ngọc Thụy, Công ty Luật Ngọc Thụy, phân tích: DN gặp nhiều bất lợi khi mở thủ tục phá sản. Đó là chủ DN bị tuyên phá sản không được quyền thành lập và giữ các chức vụ quản lý DN mới.

Đây là hình phạt nặng và làm giảm tinh thần khởi nghiệp. Luật dịch vụ giải thể doanh nghiệp cũng quy định khá rõ: Trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì thẩm phán phải gửi hồ sơ cho cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân xem xét, khởi tố về hình sự.
Và từ chính DN 
Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, theo đánh giá của các chuyên gia, vẫn còn tâm lý ngại ngần từ chính các DN, sợ phá sản là mang tiếng “chết”, sợ thủ tục, sợ không trả nổi nợ đọng thuế, nợ đọng BHXH…

Ông Phạm Văn Thành, Phó giám đốc BHXH Đồng Nai, cho biết: Theo quy định của Luật Phá sản thì DN phải giải quyết quyền lợi cho người lao động nên đó cũng là một nguyên nhân khiến DN ngại phá sản, nhưng là nguyên nhân nhỏ. Còn các nguyên nhân khác quan trọng hơn như nợ ngân hàng, không đủ vốn trả…
Tương tự, theo phân tích của bà Nguyễn Thị Cúc, chuyên gia ngành thuế, cách hiểu về việc hoàn thành nghĩa vụ thuế của các DN dự định phá sản cũng chưa thực sự đầy đủ khiến DN ngần ngại càng thêm ngại ngần. “Không nhất thiết là DN phải hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ thuế trước khi phá sản, vì phá sản đã có nghĩa là DN không đủ khả năng chi trả rồi, nhưng DN cần hoàn chỉnh các báo cáo tài chính, quyết toán thuế…”, bà Cúc cho biết.
Theo đánh giá của các chuyên gia, chính những cách hiểu chưa đúng đã khiến việc thực thi dịch vụ giải thể doanh nghiệp khó khăn từ nhiều phía. Luật sư Lê Thị Lan Phương, Giám đốc Công ty Luật Ưu Việt, phân tích: “Luật Phá sản hiện nay không chỉ đặt mục tiêu bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ mà còn có mục tiêu bảo vệ quyền lợi của DN lâm vào tình trạng phá sản và tạo cơ hội cho DN ấy tự tái tổ chức, phục hồi kinh doanh. Tuy nhiên, do tâm lý DN cũng như do vướng mắc trong việc triển khai Luật nên trong khi việc thành lập DN rất dễ dàng thì việc phá sản DN lại rất khó khăn. Văn phòng của tôi tiếp nhận rất nhiều hồ sơ tư vấn thành lập DN nhưng lại gần như không có hồ sơ nào của DN nhờ tư vấn các thủ tục phá sản”.
Trước những vướng mắc trong việc thi hành Luật Phá sản, rất nhiều ý kiến chuyên gia, luật sư đang đề xuất sửa đổi tới 57 điều trong tổng số 95 điều của Luật này. Tuy nhiên, khi chưa sửa đổi Luật, có thể làm gì để những “cái chết” hợp pháp của DN không trở nên quá nặng nề là điều đáng quan tâm

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Bộ ảnh cưới 'Bốn mùa' lãng mạn của Phó giáo sư trẻ nhất 2013

Khi ngắm bộ ảnh cưới của PGS trẻ nhất Việt Nam, Lê Anh Vinh, nếu không được giới thiệu trước, người xem sẽ tưởng đang ngắm ảnh của một cặp sao Hàn Quốc.
Trong số hơn 400 PGS được công nhận năm nay, Lê Anh Vinh (ĐH Quốc gia HN) là PGS trẻ nhất. Sinh năm 1983, Lê Anh Vinh từng là sinh viên khoa Toán cơ tin (Trường ĐH Quốc gia Hà Nội) và đoạt HCV môn Toán châu Á Thái Bình Dương, HCB môn Toán quốc tế (năm 2001). Trong ảnh: Lê Anh Vinh  và Phương Dung.
Với ý tưởng ghi lại dấu ấn tình yêu tại những thời gian kỷ niệm và miền đất đã đi qua, Anh Vinh và Phương Dung đã chup anh cuoi ở nhiều miền đất như Mỹ, Pháp, Đức, Mexico và Việt Nam.
Bộ ảnh "Mùa hè ngọt ngào", tại đảo Cozumel, Mexico và biển Florida, Mỹ.
Bộ "Trái tim mùa thu" tại Boston, Mỹ.
Năm 2003, Vinh được nhận học bổng toàn phần của Chính phủ Australia theo học ngành công nghệ thông tin tại ĐH New South Wales (UNSW). Năm 2006, anh tốt nghiệp với số điểm 99/100, cao nhất trong vòng 15 năm của khoa Toán Trường New South Wales. Vinh được nhận học bổng tiến sĩ toàn phần của 7 trường đại học hàng đầu thế giới.
Sau khi tốt nghiệp ĐH New South Wales, ngành công nghệ thông tin ở Australia năm 2006, Lê Anh Vinh nhận học bổng tiến sĩ toàn phần của những trường đại học nổi tiếng: Harvard, MIT, Berkeley, Stanford, Yale, Cambridge và Oxford. Anh quyết định theo học trường Harvard và hoàn thành khoá học vào tháng 5/2010.
Cũng trong thời gian đi du học, anh đã tìm được một nửa của mình, Phương Dung, cùng du học ở Australia với anh. Sau 7 năm bên nhau, chia sẻ niềm vui nỗi buồn, họ đã quyết định làm đám cưới.
"Bản tình ca mùa đông" tại trường Luật ĐH Harvard.
Phương Dung từng chia sẻ: "Ý tưởng bộ ảnh của chúng mình là Bốn mùa. Mình muốn bắt đầu từ mùa hè vì đó là lúc bọn mình quen nhau 7 năm trước và kết thúc bằng mùa xuân ở Việt Nam, là lúc bọn mình tổ chức đám cưới. Tình yêu ấy bắt đầu từ biển, vì thế bọn mình rất thích chup anh cuoi ở biển". Mùa hè, cặp uyên ương chụp tại đảo Cozumel, Mexico và bãi biển ở Florida, Mỹ. Mùa thu, hai bạn chụp tại Boston, Mỹ, mùa đông tại trường Luật ĐH Harvard và mùa xuân là hình chụp ở Việt Nam.
"Giai điệu mùa xuân" tại Việt Nam.

Những nguyên tắc không thể bỏ qua khi nữ giới lập nghiệp

Nhiều ví dụ điển hình cho thấy nữ giới khi lập nghiệp cũng đạt được nhiều thành công đáng khen ngợi, tuy nhiên để đến được đích cuối cùng bản thân họ phải nỗ lực hết mình

1. Vượt lên trên nam giới
Nam giới và nữ giới tồn tại một sự khác biệt lớn về tư duy và cách nhìn nhận vấn đề, chính sự khác biệt này khiến nam giới làm chủ thế giới còn nữ giới là bà chủ trong gia đình. Và đây là cục diện trong suốt nhiều thế kỉ qua. Ngày nay khi nữ giới muốn tham gia làm bá chủ thế giới nhưng qui luật và phát triển của thế giới đã tiếp thu và phát triển theo tư duy của nam giới. Vì vậy, khi là nữ giới và muốn thành công bạn cần hiểu rằng, yêu cầu về tiêu chuẩn công việc cho nam và nữ là như nhau. Để thành công trong sự nghiệp bạn cần chuẩn bị cho mình một trái tim cứng cỏi như phái nam.

2. Giữ khoảng cách đúng mức
Bất kể ai khi làm việc cũng cần đầu tư công sức và tình cảm. Đôi khi sự đam mê công việc khiến bạn mất đi phương hướng, khó đưa ra được phán đoán chính xác, cuối cùng tự hủy hoại mình. Để nắm rõ hướng đi và khả năng phát triển sự nghiệp của chính mình bạn cần giữ khoảng cách nhất định với con người và sự việt, có như vậy bạn mới bình tĩnh đưa ra phản quyết chính xác.

3. Trách nhiệm vượt trên hư danh
Phần lớn tâm lí ảo tưởng về hư danh của nữ giới đến từ điều kiện thuận lợi như có một gia đình hạnh phúc, nhà chồng giàu có, xinh đẹp, con cái giỏi giang…đây cũng là tâm lí phổ biến và có thể lí giải. Nhưng với bạn gái muốn lập nghiệp cần phải vượt qua trách nhiệm hư vinh của một người phụ nữ thông thường để đạt được thành công mình mong muốn.

4. Ý chí kiên cường
Nữ giới cần dũng cảm và kiên cường hơn nam giới nhiều lần trong các tình huống: lúc đau ốm, bị tổn thương, gặp trở ngại…Đồng thời trong quá trình lập nghiệp nữ giới cần phát huy khả năng này của mình. Không nên có thái độ ỷ lại, mong muốn nhận được sự giúp đỡ an ủi từ người khác bởi điều này rất ngắn ngủi. Học cách đứng lên trên thương trường bằng chính đôi chân mình là năng lực mà bạn cần rèn giũa.

5. Sức mạnh của tình yêu
Tình yêu là thước đo đảm bảo tuổi thanh xuân và sự năng động của phái nữ. Phái nữ khi lập nghiệp cũng không nên bỏ qua sức mạnh của tình yêu bởi tình yêu có một ý nghĩa đặc biệt với bất kì ai. Bạn cần quí trọng sự nghiệp, nhân viên và bạn làm ăn của mình.

6. Nỗ lực ngay khi nền tảng tài chính vững chắc
Một nền tảng gia đình vững mạnh là điều ai cũng mong muốn nhưng không phải ai trong chúng ta cũng may mắn như vậy. Tuy nhiên bạn cũng không nên nản lòng bởi cái quý giá nhất mà cha mẹ trang bị cho chúng ta là kho kiến thức vô tận của loài người. Bởi vậy dù tài chính gia đình có hung hậu hay không điều quan trọng chính là sự nỗ lực phấn đấu của chính bạn.

7. Ưu thế là hình thể
Lợi thế về hình thể là một điểm nhấn quan trọng trong xã hội ngày nay. Nếu bạn chiếm hữu một ngoại hình bắt mắt và một khả năng vượt trội thì còn gì tuyệt vời hơn.

8. Lựa chọn đầu tư
Căn cứ vào sở thích khả năng và điều kiện của mình bạn có thể lựa chọn đầu tư vào ngành nghề thích hợp:
- Nếu công việc yêu cầu sựu sang tạo sẽ thích hợp với người yêu thích làm việc tự do và ít quan tâm đến chăm sóc gia đình như: thủ tục thành lập doanh nghiệp, làm nhà nước, chế tác thiết kế truyền hình, biên chí phiên dịch, thiết kế thời trang, quảng cáo, sáng tác âm nhạc, quay tim, phiên dich…
- Với các ngành yêu cầu khả năng giao tiếp và đàm phán như chuyên gia tư vấn, nội dung và điều kiện làm việc yêu cầu sự linh động do đó thủ tục thành lập doanh nghiệp làm việc chiếm tỉ lệ tương đối cao bao gồm: quản lí tư vấn, tư vấn dịch vụ du lich, tư vấn tâm lí, chuyên viên giảng giải, tư vấn khách hàng…
- Cung cấp dịch vụ chăm sóc người già và trẻ em: lớp nghệ thuật, nhà trẻ, trông trẻ tại nhà…
- Phương thức kinh doanh: tư nhân hoặc liên doanh như cửa hàng bánh, café, trang phục…

Đoàn thương nhân Trung Quốc tìm hiểu đồ gỗ Việt Nam

Trong tuần lễ qua đã có hai đoàn thương nhân Trùng Khánh và Bắc Kinh đã đến làm việc với Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa) để bàn về việc đưa đồ gỗ Việt Nam sang tiêu thụ ở thị trường Trung Quốc.

 

                                

                                                                           Ảnh minh họa

 Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hawa cho hay, đoàn thương nhân từ thành phố Trùng Khánh và Bắc Kinh cùng quan tâm đến các mặt hàng đồ gỗ phong thủy trước giờ các doanh nghiệp xuất khẩu sang các thị trường chủ lực như Mỹ, EU, Nhật... Là quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất châu Á, Trung Quốc cũng đồng thời là thị trường tiêu thụ đồ gỗ lớn thứ 2 của Việt Namchỉ sau Mỹ (thống kê năm 2012).
Theo ông Hạnh, cho đến nay 60% giá trị xuất khẩu đồ gỗ sang Trung Quốc từ Việt Nam là mặt hàng dăm gỗ thô, còn lại 40% là các mặt hàng đồ gỗ phong thủy nội thất.
Ông  Đặng Quốc Hùng, Phó chủ tịch Hawa, người đã có nhiều kinh nghiệm kinh doanh với các thương nhân Trung Quốc, cho hay do ảnh hưởng của nền văn hóa, người Trung Quốc từ lâu đã có nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm nội thất, đồ gỗ chế tác bằng tay làm bằng gỗ to, quý hiếm, không phải là các mặt hàng các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ sản xuất. Chưa kể, Trung Quốc cũng là một cường quốc về chế biến và xuất khẩu đồ gỗ.
Tuy nhiên, ngành này của Trung Quốc gần đây đã mất lợi thế do giá nhân công và nhiều chi phí đầu vào tăng cao, các đô thị, thành phố hiện đại của Trung Quốc cũng quay sang chuộng các mặt hàng đồ gỗ hiện đại hơn, mang phong cách Âu, Mỹ. Do vậy, các thương nhân mới quay sang tìm hiểu khả năng cung ứng đồ gỗ Việt Nam.
Theo Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam tính từ đầu năm đến giữa tháng 11 đạt 4,611 tỷ đô la Mỹ, so với con số của cả năm 2012 là 4,6 tỷ đô la Mỹ. Riêng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Trung Quốc 10 tháng đầu năm nay đạt gần 800 triệu đô la Mỹ, tăng gần gấp 5 lần so với cùng kỳ năm 2011. Mặc dù tăng trưởng nhanh nhưng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ sang Trung Quốc vẫn chỉ bằng ½ so với thị trường xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất của Việt Nam là Mỹ với giá trị 10 tháng đầu năm đạt gần 1,6 tỷ đô la Mỹ, tăng 9,2% so với cùng kỳ.

Những đóng góp tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế - xã hội của Việt Nam

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
(Tài chính) Việc thu hút, sử dụng đầu tư nước ngoài (ĐTNN) thời gian qua cơ bản đã đáp ứng những mục tiêu đề ra về thu hút vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện đại. Điều này khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế. 
    Những đóng góp tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế - xã hội của Việt Nam (*)
    Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
    Sau 25 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút ĐTNN với việc ban hành Luật ĐTNN năm 1987, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN ngày càng phát huy vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, cụ thể:. 

    Thứ nhất, ĐTNN góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư trong nước
    Tính đến tháng 8/2012, cả nước có 14.095 dự án ĐTNN còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 206,8 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đã giải ngân được 97,4 tỷ USD (chiếm 47% vốn đăng ký). ĐTNN là khu vực phát triển năng động nhất với tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng trưởng cả nước: năm 1995 GDP của khu vực ĐTNN tăng 14,98% trong khi GDP cả nước tăng 9,54%; tốc độ này tương ứng là 11,44% và 6,79% (2000), 13,22% và 8,44% (2005), 8,12% và 6,78% (2010). Tỷ trọng đóng góp của khu vực ĐTNN trong GDP tăng dần, từ 2% GDP (1992), lên 12,7% (2000), 16,98% (2006) và 18,97% (2011). Tác động của ĐTNN đối với tăng trưởng kinh tế thể hiện rõ hơn thông qua:
    Bổ sung cho tổng vốn đầu tư xã hội
    Vốn ĐTNN thực hiện tăng nhanh qua các thời kỳ, từ khoảng 20,67 tỷ USD, chiếm 24,32% tổng vốn đầu tư xã hội (1991 – 2000) lên 69,47tỷ USD, chiếm 22,75% tổng vốn đầu tư xã hội (2001 – 2011). Tỷ trọng khu vực ĐTNN trong cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 – 2011 tăng 5,4%.
    Góp phần quan trọng vào xuất khẩu
    Chủ trương khuyến khích ĐTNN hướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực xuất khẩu, qua đó giúp chúng ta từng bước tham gia và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.

    Trước năm 2001, xuất khẩu của khu vực ĐTNN chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô. Từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở 10 thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012.
    Bên cạnh đó, ĐTNN góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo (1).
    ĐTNN tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu nhất là sang Hoa Kỳ, EU, làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất khẩu, đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.

    Ngoài ra, ĐTNN còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn chế nhập siêu thông qua việc cung cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm chất lượng cao do doanh nghiệp (DN) trong nước sản xuất thay vì phải nhập khẩu như trước đây.
    Đóng góp vào nguồn thu ngân sách
    Đóng góp của ĐTNN vào ngân sách ngày càng tăng, từ 1,8 tỷ USD (1994-2000) lên 14,2 tỷ USD (2001 – 2010). Năm 2012, nộp ngân sách của khu vực ĐTNN (không kể dầu thô) là 3,7 tỷ USD, chiếm 11,9% tổng thu ngân sách (18,7% tổng thu nội địa, trừ dầu thô).
    Thứ hai, ĐTNN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - điện đại hóa
    Hiện nay, 58,4% vốn ĐTNN tập trung vào lĩnh vực công nghiệp – xây dựng với trình độ công nghệ cao hơn mặt bằng chung của cả nước. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp - xây dựng của khu vực ĐTNN đạt bình quân gần 18%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành. Đến nay, khu vực ĐTNN đã tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng...
    ĐTNN đã góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu và tiếp thu một số công nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế, tạo ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất là các dự án tư vấn đầu tư nước ngoài vào phát triển nguồn nguyên liệu, góp phần cải thiện tập quán canh tác và điều kiện hạ tầng yếu kém, lạc hậu ở một số địa phương.

    Khu vực ĐTNN đã tạo nên bộ mặt mới trong lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao như khách sạn, văn phòng căn hộ cho thuê,ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn luật, vận tải biển, lô-gi-stíc, siêu thị... Các dịch vụ này cũng góp phần tạo ra phương thức mới trong phân phối hàng hóa, tiêu dùng, kích thích hoạt động thương mại nội địa và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.
    Thứ ba, ĐTNN tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động
    Hiện nay khu vực ĐTNN tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3- 4 triệu lao động gián tiếp, có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. DN ĐTNN được xem là tiên phong trong việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình độ của công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý, trong đó một bộ phận đã có năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài. Ngoài ra, ĐTNN đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng lao động thông qua hiệu ứng lan tỏa lao động, cập nhật kỹ năng cho bên cung ứng và bên mua hàng.
    Thứ tư, ĐTNN là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế
    Khu vực ĐTNN sử dụng công nghệ cao hơn hoặc bằng công nghệ tiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập trong khu vực. Từ năm 1993 đến nay, cả nước có 951 hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được phê duyệt/đăng ký, trong đó có 605 hợp đồng của DN ĐTNN, chiếm 63,6%.

    Thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ, khu vực ĐTNN đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, nâng cao năng lực công nghệ trong nhiều lĩnh vực. Xét về cấp độ chuyển giao công nghệ, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hiệu quả cao nhất. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, một số ngành đã thực hiện tốt chuyển giao công nghệ như dầu khí, điện tử, viễn thông, tin học, cơ khí chế tạo, ô tô, xe máy và dệt may, giày dép, trong đó viễn thông, dầu khí được đánh giá có hiệu quả nhất.
    Tác động lan tỏa công nghệ của khu vực ĐTNN được thực hiện thông qua mối liên kết sản xuất giữa DN ĐTNN với DN trong nước, qua đó tạo điều kiện để DN trong nước tiếp cận hoạt động chuyển giao công nghệ.

    Nhìn chung, khu vực ĐTNN có tác động lan tỏa gián tiếp tới khu vực DN sản xuất trong nước cùng ngành và DN dịch vụ trong nước khác ngành. Bên cạnh đó, thông qua mối quan hệ với DN ĐTNN, DN trong nước ứng dụng công nghệ sản xuất tương tự để sản xuất sản phẩm/dịch vụ thay thế và sản phẩm/dịch vụ khác để tránh cạnh tranh. Đồng thời có tác động tạo ra các ngành sản xuất, dịch vụ khác trong nước để hỗ trợ cho hoạt động của các DN ĐTNN.
    Thứ năm, ĐTNN có tác động nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả ba cấp độ quốc gia, DN và sản phẩm
    Nhiều sản phẩm xuất khẩu Việt Nam đủ sức cạnh tranh và có chỗ đứng vững chắc trên các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Kết quả phân tích các chỉ tiêu về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, khả năng tiếp cận thị trường (đầu vào và tiêu thụ sản phẩm) và năng lực tham gia mạng sản xuất toàn cầu cho thấy năng lực cạnh tranh của khu vực ĐTNN cao hơn so với khu vực trong nước.
    Đồng thời, khu vực ĐTNN đã và đang có tác động thúc đẩy cạnh tranh của khu vực trong nước nói riêng và của nền kinh tế nói chung thông qua thúc đẩy năng suất, tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình độ lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động.
    Thứ sáu, ĐTNN góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị DN, tạo thêm áp lực đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh.
    Thực tiễn ĐTNN đã cho nhiều bài học, kinh nghiệm bổ ích về công tác quản lý kinh tế và DN, góp phần thay đổi tư duy quản lý, thúc đẩy quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách theo hướng bình đẳng, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế; đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với xu thế hội nhập.
    Thứ bảy, ĐTNN đã góp phần quan trọng vào hội nhập quốc tế
    Hoạt động thu hút ĐTNN đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi để Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khung với EU, Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ tư vấn đầu tư nước ngoài với 62 quốc gia/vùng lãnh thổ và Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) với Nhật Bản và nhiều nước.

    Doanh nghiệp phá sản phần lớn do không biết cách sử dụng vốn

    Đồng ý rằng lãi suất cao là một trong những nguyên nhân dẫn tới "cơn bão" phá sản doanh nghiệp thời gian qua, song người phát ngôn Chính phủ cũng nhìn nhận, phần lớn là do doanh nghiệp quá nhỏ, có phương án sử dụng vốn không tốt nên mới bị nhà băng từ chối.
    Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam.
    Theo báo cáo của Văn phòng Chính phủ công bố tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 3/2012, trong quý I, có trên 2.200 doanh nghiệp và có trên 9.700 doanh nghiệp đăng ký ngừng hoạt động có thời hạn hoặc dừng thực hiện nghĩa vụ thuế.
    Trong khi đó, số doanh nghiệp thành lập mới là trên 15.300 doanh nghiệp. Báo cáo có nhận định “mặc dù tình hình kinh tế khó khăn song số doanh nghiệp thành lập mới vẫn lớn hơn số dịch vụ giải thể doanh nghiệp và đăng ký ngừng hoạt động”.
    Nói về “cơn bão” giải thể của các doanh nghiệp vừa qua, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam thừa nhận, đó là một thực tế phải đối mặt. Theo đó, việc nhiều doanh nghiệp ngừng sản xuất và giải thể phản ánh một thực trạng là sản xuất có khó khăn, đặc biệt là với những doanh nghiệp vừa và nhỏ.
    Tuy nhiên, ông cũng lưu ý, “Ở Việt Nam, quan niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có khác so với các nước. Thực ra, ở chúng ta phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ”.
    Trong số các doanh nghiệp giải thể, rất nhiều trong số này là các doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh nhưng chủ yếu là có quy mô rất nhỏ, vì thế số doanh nghiệp phải giải thể nhiều này không ảnh hưởng nhiều đến tình hình lao động”.
     Số lượng doanh nghiệp không quan trọng bằng chất lượng nền kinh tế
    “Mổ xẻ” nguyên nhân vấn đề, người phát ngôn Chính phủ cho biết, vấn đề này có liên quan đến tốc độ tăng trưởng (đạt thấp, chỉ 4% trong quý I) và thậm chí là tốc độ tăng trưởng tín dụng còn ở mức âm.
    “Đúng là nhiều doanh nghiệp không tiếp cận được đến vốn vay ngân hàng”, ông nói. Song, ở đây có phần do lãi suất cao, nhưng còn có phần thuộc về bản thân doanh nghiệp.
    Bởi trên thực tế, các ngân hàng cũng phải xem xét liệu vốn cho vay có thể có khả năng hoàn trả không. Do đó, có những doanh nghiệp khi trình bày phương án sử dụng vốn thì không được phía ngân hàng chấp nhận.
    Và theo Bộ trưởng, chúng ta phải lưu ý một thực tế rằng, nhiều doanh nghiệp trong nhiều năm qua đăng ký và tồn tại nhưng hầu như lại không có hoạt động thực tế, không phát sinh doanh thu chịu thuế.
    “Và cũng có hiện tượng là một cá nhân hay một doanh nghiệp lớn vì tính toán trong kinh doanh khác nhau, song phù hợp với quy định của pháp luật, đã lập ra rất nhiều doanh nghiệp nhỏ” - trích lời Bộ trưởng.
    Ngoài ra, ông cũng chỉ ra rằng, có nhiều doanh nghiệp trước đây đã ngưng trệ sản xuất, bây giờ tại đúng thời điểm có những chính sách quản lý vĩ mô mới của nhà nước, đặc biệt là liên quan đến các quy định về tài chính, ngân hàng, đã chủ động làm thủ tục dịch vụ giải thể doanh nghiệp
    Bộ trưởng nhìn nhận, trong nền kinh tế thị trường, việc các nhà kinh doanh lập các doanh nghiệp, đăng ký mới cũng như đóng cửa sản xuất là chuyện bình thường.
    Theo đó, hướng điều hành của Chính phủ không chỉ trong năm nay và còn nhiều năm tới là tạo ra một nền kinh tế theo cơ chế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa. Như vậy, “số lượng các doanh nghiệp nhiều hay ít không quan trọng bằng chất lượng, hiệu quả kinh doanh của cả nền kinh tế” – ông kết luận.
    Cần nhiều hơn các biện pháp hỗ trợ
    Đề cập đến vấn đề tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp, Bộ trưởng Đam cho rằng,  có rất nhiều giải pháp đồng bộ, từ vấn đề tiền tệ cho đến thuế và những giải pháp cải cách thủ tục hành chính.
    Việc giãn thuế, trước đây, Bộ Tài chính cũng đã có đề xuất trình lên Chính phủ.
    Mới đây, vấn đề này lại tiếp tục được Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhắc lại. Bộ trưởng Đam cho biết, hiện đề xuất này đã được Chính phủ giao cho Bộ Tài chính và các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu trình phương án.
    Điều đáng lưu ý mà người phát ngôn Chính phủ nhắc đến trong phiên họp báo lần này, đó là, qua thực tiễn cho thấy, các biện pháp giãn thuế này mới chỉ tập trung vào những doanh nghiệp có lợi nhuận chịu thuế.

    Vì vậy, những doanh nghiệp rất khó khăn, chưa có lợi nhuận để được giãn thuế thì cũng cần có các giải pháp về thuế để hỗ trợ các doanh nghiệp diện này, ông nói.